Hành trình vải thiều Việt Nam chinh phục người tiêu dùng ‘đảo quốc sư tử’

Tính đến nay, sau 2 năm có mặt tại thị trường Singapore, trái vải thiều của Việt Nam đã tìm được chỗ đứng vững chắc và chiếm được cảm tình của người tiêu dùng tại quốc gia này.

Theo nhận định của giới chuyên gia, tính đến nay, sau 2 năm có mặt tại thị trường Singapore, trái vải thiều của Việt Nam đã tìm được chỗ đứng vững chắc và chiếm được cảm tình của người tiêu dùng tại đảo quốc sử tử. 

Nếu như năm 2020, trái vải chỉ được bày bán tại một số siêu thị của Tập đoàn FairPrice, thì năm 2021, trái vải Việt Nam đã xuất hiện trên 230 siêu thị của FairPrice để đáp ứng nhu cầu gia tăng của khách hàng. Vải thiều chỉ sau 2 năm đã vươn lên “Top 5” các sản phẩm nông sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Singapore. Mặc dù khối lượng vải thiều Việt Nam vào thị trường Singapore vẫn ở con số khiêm tốn 60 tấn trong năm 2020 và dự kiến khoảng 100 tấn trong năm 2021 nhưng mức độ hưởng ứng của người dân vượt xa kỳ vọng của nhà nhập khẩu. 

Vải thiều Việt Nam dần chinh phục người tiêu dùng ‘đảo quốc sư tử’. Ảnh minh họa.

Giám đốc Andy Chang từ Tập đoàn FairPrice cho biết: “Chúng tôi đang thấy có sự chào đón ngày càng tăng với các sản phẩm từ Việt Nam, từ các sản phẩm lương thực như gạo, cho tới sản phẩm tươi như trái vải thiều. Các khách hàng nhận thấy chất lượng và giá trị của các sản phẩm Việt Nam”.

Bà Trần Thu Quỳnh, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Singapore chia sẻ, trái vải thiều là câu chuyện thành công về cách thức làm tiếp thị, cách thức tiếp cận thị trường, về sự phối hợp giữa Bộ Công thương với các địa phương và có thể là hình mẫu cho các mặt hàng nông sản khác của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Singapore nói riêng và các thị trường nước ngoài nói chung. 

Đây là lần đầu tiên vải thiều Việt Nam có tem “QR Code” để truy xuất nguồn gốc xuất xứ, một yếu tố rất quan trọng để khẳng định thương hiệu Việt. “Là người làm công tác phát triển thị trường nước ngoài, tôi rất mong bà con nông dân, các nhà xuất khẩu quan tâm và chú trọng hơn tới công tác đóng gói, bao bì, bảo quản, đặc biệt là tem truy xuất nguồn gốc và chỉ dẫn địa lý, như đã làm với trái vải thiều”, bà Trần Thu Quỳnh nhấn mạnh.

Về cách thức quảng bá sản phẩm nông sản ở thị trường nước ngoài, bà Quỳnh cho rằng các mặt hàng của Việt Nam có lợi thế về giá, chất lượng, tuy nhiên mức độ nhận diện của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nói chung cũng như trái vải thiều của Việt Nam nói riêng vẫn còn thấp. Số lượng bài viết cũng như các hình thức quảng bá các sản phẩm nông sản của Việt Nam bằng các ngôn ngữ nước ngoài thông dụng vẫn còn rất hạn chế và cần phải được khắc phục.

Vì vậy, để các sản phẩm nông sản Việt Nam có chỗ đứng vững chắc hơn, Việt Nam cần thúc đẩy quảng bá về “lựa chọn thực phẩm có lợi cho sức khỏe”, không có chất bảo quản, được chăm sóc bảo đảm quy trình sạch, xuất khẩu trực tiếp từ nông trại tới siêu thị.

Ngoài ra, Việt Nam và Singapore là hai nước duy nhất trong ASEAN có hiệp định thương mại tự do với Anh và Liên minh châu Âu (EU). Cả Việt Nam và Singapore đều đặt mục tiêu xuất khẩu các sản phẩm có giá trị chế biến sâu, giá trị gia tăng cao. 

Do Singapore không có nền nông nghiệp nên dù cố gắng cũng chỉ đáp ứng tối đa từ 5-15% nhu cầu tiêu dùng trong nước. Để có thể xuất khẩu các sản phẩm nông sản chế biến ra nước ngoài, Singapore sẽ rất cần nguồn nguyên liệu từ các nước có hiệp định thương mại tự do, đảm bảo nguyên tắc nguồn gốc xuất xứ. 

Vì vậy, đây không chỉ là cơ hội lớn cho Việt Nam trong gia tăng thị phần xuất khẩu nông sản thô mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam kết nối với các doanh nghiệp Singapore cùng khai thác nguyên tắc nguồn gốc xuất xứ, cùng sản xuất tại Việt Nam trên cơ sở tận dụng các nhãn hàng của Singapore, mạng lưới bán hàng của quốc gia này đi sang các thị trường Việt Nam chưa có sự kết nối tốt…

Mai Phương