Khung luật pháp và chính sách của Việt Nam về an sinh xã hội cho phụ nữ và trẻ em gái hướng tới tầm nhìn ASEAN 2025
03:37 26/06/2019
Đảm bảo an sinh xã hội (ASXH) là một trong những mục tiêu hàng đầu của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN).

Là thành viên của ASEAN, Việt Nam ban hành đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 15-NQ/TW), trong đó có nhiều nội dung tương đồng với Tuyên bố ASEAN, gồm thúc đẩy việc đảm bảo ASXH cho tất cả người dân, trong đó có chú ý đến các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội.

Theo Nghị Quyết 15-NQ/TW, “hệ thống ASXH phải dựa trên sự phát triển kinh tế - xã hội, khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước, ưu tiên những “người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số” (ĐCSVN, 2017). Hệ thống ASXH phải đa dạng, toàn diện, có sự chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, bảo đảm bền vững và công bằng.

Theo đó, hệ thống ASXH có cấu trúc gồm 4 trụ cột như sau (xem hình sau):


Nguồn: Tổng hợp từ Nghị Quyết 15-NQ/TW về Một số vấn đề về chính sách ASXH giai đoạn 2011-2020 của Ban Chấp hành TW Đảng Khóa XI.

Chính sách của Việt Nam về ASXH cho phụ nữ và trẻ em gái gồm:

          Chính sách thúc đẩy việc làm bền vững và giảm nghèo cho phụ nữ và trẻ em gái. Việt Nam đã có một số chính sách phát triển TTLĐ; chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ phát triển SXKD, tạo việc làm; chính sách hỗ trợ ĐTN; chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng; và chính sách hỗ trợ lao động di chuyển.

Đối tượng chủ yếu gồm: thanh niên mới bước vào TTLĐ, người thất nghiệp, thiếu việc làm và cả những người đang có nhu cầu tìm việc làm tốt hơn; lao động trong khu vực phi chính thức, lao động nữ, lao động nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương khác.

          Chính sách Bảo hiểm xã hội. Hệ thống chính sách BHXH ở Việt Nam gồm 3 nhóm chính sách cơ bản: BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Lao động nữ tham gia BHXH bắt buộc, bên cạnh thụ hưởng các chế độ chung cho mọi người lao động, còn được hưởng chế độ thai sản. Đây là những quy định nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH, đồng thời khuyến khích chia sẻ công việc chăm sóc con nhỏ giữa chồng và vợ.

          Chính sách TGXH. Hệ thống chính sách TGXH ở Việt Nam gồm chính sách TGXH thường xuyên và TGXH đột xuất.

Các chính sách đảm bảo mức tối thiểu một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, dân tộc thiểu số và người có hoàn cảnh khó khăn.

Tuy nhiên, xây dựng và thực hiện chính sách ASXH đối với phụ nữ và trẻ em gái ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế như sau:

Thứ nhất, hầu hết các chính sách chưa được quan tâm lồng ghép giới đầy đủ và hiệu quả.

Thứ hai, một số chính sách về lao động và BHXH đang phân biệt giữa khu vực có quan hệ lao động và khu vực không có quan hệ lao động, gây bất lợi cho các nhóm lao động nữ “yếu thế”.

Thứ ba, nguồn lực thực hiện các chính sách còn hạn chế và dàn trải; mức hỗ trợ của nhiều chính sách còn thấp nên hiệu quả, tác động của chính sách chưa cao;

Thứ tư, phụ nữ và trẻ em gái rất ít được tham gia vào quá trình xây dựng, triển khai và giám sát-đánh giá các chính sách, chương trình, dự án về ASXH trong thực tế.

Thứ năm, các chỉ tiêu thống kê về ASXH hiện hành chưa được phân tách theo giới tính đầy đủ và thường xuyên.


Vụ Hợp tác quốc tế

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội